Công Cuộc Cứu Chuộc

THƯ MỤC VỤ CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC PAUL ETIENNE, TGM GP. Seattle Washington

Xác tín và Sống Bí tích Thánh Thể trong Tổng Giáo phận Seattle

GIỚI THIỆU

Trong năm đầu tiên của tôi tại Tổng Giáo phận Seattle, tôi đã cử hành Thánh lễ tại nhiều giáo xứ và giáo đoàn. Bất cứ đến nơi đâu, tôi đều gặp gỡ các cộng đoàn tín hữu năng động và đầy niềm tin. Dù lớn hay nhỏ, thành thị hay nông thôn, các giáo xứ của chúng ta đều dành sự quan tâm và chú ý đến các buổi cử hành phụng vụ. Lý do thật đơn giản: “Giáo hội sống nhờ Thánh Thể.”1
 
Thánh Thể là trung tâm đời sống chúng ta, cho toàn Giáo hội hay từng cá nhân người tín hữu. Thực tế, chúng ta không thể sống mà không có Thánh Thể. Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh đời sống bao gồm cả việc thờ phượng. Đối với các tín hữu Công giáo chúng ta, đại dịch, cùng với việc áp đặt “chay tịnh Thánh Thể” của nó, đã vén mở cách thế mới cho chúng ta tập trung vào việc cử hành Thánh Thể thế nào với tư cách là Giáo hội và là một cộng đoàn. Ngay cả khi chúng ta không thể quy tụ lại với nhau cách thể lý, nhưng chúng ta vẫn quy tại với nhau trong tinh thần: Các giáo xứ vẫn tiếp tục đặt việc cử hành Thánh Thể lên hàng đầu của đời sống Giáo xứ qua việc truyền hình trực tiếp trên mạng xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận ra, có lẽ chưa bao giờ có trước đây, rằng không có sự thay thế nào cho việc cùng nhau quy tụ cử hành Thánh Thể, và đón nhận bí tích Mình và Máu Thánh Chúa Kitô như một phần đời sống của cộng đoàn tín hữu.
 
Khi kết thúc năm đầu tiên của mình tại Tổng Giáo phận Settle, tôi mời gọi tất cả mọi người chúng ta trong Giáo hội địa phương này tập trung đổi mới trọng tâm đức tin và trung tâm đời sống giáo xứ của mình: Thánh Thể. Thánh Thể là nguồn ân sủng không bao giờ cạn, là Mầu nhiệm Vượt Qua tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô mỗi ngày được đổi mới để chúng ta và toàn thể thế giới được ơn cứu độ. Thánh Thể là sự hiện diện sống động của Chúa Kitô ở giữa chúng ta. Sự hiện diện đó phải làm chúng ta thay đổi: Đón nhận Mình Chúa Kitô, chúng ta trở thành Thân Thể Chúa Kitô. Thánh Thể kết hiệp chúng ta với Chúa Kitô, trong Chúa Kitô và với nhau. Và Thánh Thể ký thác chúng ta cho người nghèo, sai chúng ta đi trong tinh thần phục vụ và yêu thương.
 
Khi nói đến Bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể đi sâu hơn. Cho dù chúng ta đã dành nhiều năm để khám phá thần học Thánh Thể, hay vẫn đang chuẩn bị cho lần Rước lễ lần đầu của mình, vẫn luôn có nhiều điều để khám phá về Bí tích Thánh Thể. Và bất kể nguồn tài nguyên của các cộng đồng giáo xứ, các nghi thức cử hành phụng vụ phải luôn được quan tâm và chú ý cải thiện, nhằm phản ánh rõ nét hơn Đức Kitô, Đấng thực sự chủ toạ mọi cử hành Thánh Thể. Trong suốt năm tới đây, tôi xin mỗi anh chị em tín hữu Công giáo và mọi cộng đồng giáo xứ cam kết chính mình để đào sâu hơn sự hiểu biết và kinh nghiệm về Thánh Thể, làm cho các buổi phụng vụ Thánh Thể của chúng ta thêm vững mạnh.
 
Trong tinh thần khích lệ, và với niềm ước mong cho sự hiệp nhất sâu sắc và hữu hình hơn quanh bàn thờ Chúa, tôi xin chia sẻ lá thư mục vụ này về bí tích Thánh Thể và công bố Năm Thánh Thể cho Tổng Giáo phận Seattle. Tôi hy vọng những suy tư dưới đây sẽ cung cấp chất liệu cho lộ trình những tháng sắp tới.
 

PHỤNG VỤ VÀ CÔNG CUỘC CỨU CHUỘC


Khởi đầu Hiến chế Phụng vụ Thánh, Thánh Công đồng Chung Vatican II (1963), chúng ta đọc thấy:

Nhờ Phụng Vụ, nhất là trong hiến tế tạ ơn, mà "công cuộc cứu chuộc chúng ta được thực hiện". Phụng Vụ góp phần rất nhiều để giúp các tín hữu đem cuộc sống mình diễn tả và biểu lộ cho những người khác mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Giáo Hội chân chính.2

Nhờ Mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa đã cứu chuộc chúng ta. Đây là trọng tâm của Tin Mừng mà các tông đồ đã công bố và tin mừng này Giáo hội vẫn tiếp tục công bố hôm nay.3 Đây là món quà nhưng không của Thiên Chúa đã mang lại ý nghĩa cho cuộc đời chúng ta: Thực ra, “nếu không được cứu chuộc, chúng ta sinh ra có ích gì.”4

Và qua phụng vụ, công trình cứu chuộc lớn lao này vẫn tiếp diễn. Khi Giáo hội quy tụ cử hành Thánh Thể, điều gì đó xảy ra: Chúa Kitô, thực sự hiện diện, hành động qua, với và cho chúng ta, công cuộc cứu chuộc vẫn tiếp tục.

Có nhiều đoạn ngắn gọn để suy gẫm từ Hiến chế Phụng vụ Thánh này. Tôi muốn nhấn mạnh đến ba điểm giúp chúng ta tập trung vào công việc mục vụ, đặc biệt trong những tháng tới khi chúng ta làm việc thông qua tiến trình lên kế hoạch mục vụ của Tổng Giáo phận.

1. Giáo dân diễn tả mầu nhiệm Chúa Kitô.

Phụng vụ không phải là việc của linh mục, còn mọi người thì đón nhận cách thụ động. Là người tín hữu Công giáo, phụng vụ là ngôn ngữ của chúng ta. Tụ họp để cử hành phụng vụ ngày Chúa nhật là phương tiện chính để chúng ta biết Chúa Kitô và để diễn tả mầu nhiệm đó qua việc dâng của lễ thời gian và lòng thành tín của mình. Việc quy tụ của chúng ta phải phản ánh được mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng hành động qua chúng ta trong thế giới hôm nay. Nhờ việc tham gia có ý thức của chúng ta trong bí tích Thánh Thể, chúng ta học biết sống hiệp thông gần gũi hơn với Chúa Kitô.


2. Giáo dân biểu lộ mầu nhiệm Chúa Kitô cho người khác.
Sống sự hiệp thông gần gũi hơn với Chúa Kitô, chúng ta biểu lộ sự hiện diện của Người với tất cả những ai chúng ta gặp gỡ. Công cuộc truyền giáo, chia sẻ niềm vui cuộc gặp gỡ của ta với Đức Kitô, là việc làm của mỗi Kitô hữu. Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết, “Tất cả các tín hữu đã lãnh nhận bí tích Thánh tẩy, dù ở vị trí nào trong Giáo hội hay trình độ giáo lý ra sao, đều là những tác nhân truyền giáo, và sẽ bất cập nếu đề ra một kế hoạch truyền giáo do các chuyên gia thực hiện, còn số tín hữu còn lại chỉ tham gia cách thụ động. Việc tân phúc âm hoá kêu gọi mỗi cá nhân tham gia vào một phần của mỗi con người được rửa tội. Ngày nay, mỗi Kitô hữu đều được đặt trước thách đố này là phải tích cực tham gia vào công cuộc truyền giáo; thật vậy, bất cứ ai đã thực sự cảm nhận tình yêu cứu độ của Thiên Chúa sẽ không cần nhiều thời gian và sự huấn luyện lâu dài để đi ra công bố tình yêu đó.”5

Đây là ý nghĩa của cụm từ “các môn đệ truyền giáo”: Chúng ta được sai đi với sứ mạng công bố Tin Mừng cho người khác, vì chúng ta không hề ngừng làm môn đệ, luôn học theo cách của Chúa. Việc loan báo Tin Mừng lớn nhất của chúng ta là thực sự làm chứng bằng cuộc sống.

3. Giáo dân bày tỏ bản tính đích thực của một Giáo hội chân chính.
Điều này có nghĩa gì? Nghĩa là các tín hữu, tất cả chúng ta, là Giáo hội. Giáo hội không chỉ đơn thuần là một tổ chức; gói gọn trong một toà nhà. Giáo hội là Thân Thể Chúa Kitô, ở trong mỗi thành viên, sống và năng động, ở thế gian hay trên thiên quốc. Nhìn cộng đoàn quy tụ xung quanh bàn thờ để cử hành Thánh Thể, chúng ta bước đầu nhận ra Giáo hội đích thực là gì: “vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình và hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành hoạt động vừa chiêm niệm, và những gì hiện tại phải hướng về thành đô tương lai là nơi chúng ta đang tìm kiếm”6

Trong phụng vụ, công việc cứu chuộc chúng ta đang diễn ra ngay bây giờ. Qua phụng vụ, Thiên Chúa kêu gọi và làm chúng ta nên những người môn đệ truyền giáo. Đó là lý do tại sao việc tham dự của chúng ta là rất quan trọng:

Vì thế, Giáo Hội hằng bận tâm lo cho các Kitô hữu tham dự vào mầu nhiệm đức tin ấy, không như những khách bàng quan, câm lặng, nhưng là những người thấu đáo mầu nhiệm đó nhờ các nghi lễ và kinh nguyện: họ tham dự hoạt động thánh một cách ý thức, thành kính và linh động: họ được đào tạo bởi lời Chúa; được bổ sức nơi bàn tiệc Mình Chúa; họ tạ ơn Chúa; và trong khi dâng lễ vật tinh tuyền, không chỉ nhờ tay linh mục mà còn liên kết với ngài, họ tập dâng chính mình.”7

Khi đến cử hành phụng vụ, không chỉ đơn giản là hiện diện, vì chúng ta không thể “như khách bàng quan câm lặng” hay như những khách hàng, mà là những cộng sự viên đắc lực của Chúa Kitô trong công trình cứu độ linh thánh. Việc tham gia tích cực của chúng ta trong phụng vụ phản ảnh sự tham gia tích cực vào sứ mạng của Chúa Kitô. Khi thường xuyên quy tụ để cử hành phụng vụ, chúng ta cảm nghiệm được sự tự hiến của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể.

Ngay cả khi chia sẻ hoa trái tình yêu hiến tế của Chúa, chúng ta đều được kêu gọi làm cho tình yêu đó trở nên kiểu mẫu cho đời sống riêng mình: Chúng ta đang được kêu gọi hiến mình cho tha nhân. Phụng vụ không chỉ là kiểu mẫu cho cuộc đời chúng ta, mà còn giúp đời sống hàng ngày của chúng ta rập theo kiểu mẫu tình yêu hiến tế của Chúa Kitô.

Cách sống này được ghi lại tuyệt đẹp trong lời kinh Ban Mai: “Lạy Chúa Giêsu, con nhờ Trái tim Vẹn Sạch Đức Maria, mà dâng lên Chúa mọi lời con cầu xin, mọi việc con làm, mọi niềm vui và sự khó con chịu trong ngày hôm nay … cùng hiệp với Lễ Tế trong Thánh Lễ.” Sự sống thần linh của Chúa Kitô thông ban cho chúng ta qua bí tích thánh tẩy nuôi dưỡng chúng ta với Thánh Thể mà chúng ta có thể hoàn tất sứ mạng của Chúa Kitô trong đời sống chúng ta. Cuộc đời người Công giáo là sự sống Thánh Thể. Cũng vậy, chúng ta được chúc phúc, được bẻ ra, được nhân lên, và được chia sẻ để người khác có thể nhận biết Chúa Giêsu Kitô (x. Gioan 6:1-15). Đức tin của chúng ta phải đi vào từng khía cạnh của cuộc sống, bởi đối với người Công giáo, chúng ta không còn sống cho chính mình, nhưng là Đức Kitô sống trong chúng ta (x. Galata 2:20).

Trong việc giúp các tín hữu thực hiện vai trò quan trọng của họ trong phụng vụ, và đem áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày, các cha xứ có một trọng trách. “Các mục tử không phải chỉ chủ tâm tuân giữ các lề luật trong các hoạt động phụng vụ để cử hành thành sự và hợp pháp mà thôi, nhưng còn phải làm cho các tín hữu tham dự Phụng Vụ một cách ý thức, linh động và hữu hiệu.”8 Cả về cách linh mục cử hành phụng vụ (ars celebrandi) cũng như việc đào luyện ngài mang lại cho cộng đoàn giáo xứ, cha xứ có một trách nhiệm đặc biệt để giúp mỗi người tín hữu Công giáo tham dự cách đầy đủ, ý thức và tích cực trong Thánh Lễ và để họ sống tinh thần phụng vụ trong đời sống hàng ngày của họ. Vì mầu nhiệm chúng ta cử hành tại mỗi thánh lễ đều là mầu nhiệm sự sống của mỗi Kitô hữu.

Việc nhận biết Đức Kitô là Chiên Vượt Qua đã hiến mình cho chúng ta khiến chúng ta coi khoảnh khắc tự hiến tế của Ngài như là sự khởi đầu cuộc sống của chính chúng ta. Theo như chúng ta biết, sự tự hiến của Chúa Kitô thay mặt chúng ta khi chúng ta ý thức ân huệ này và hiểu sự sống được trao ban cho chúng ta bằng sự hy sinh này. Một khi đã hiểu điều đó, chúng ta nên đi vào sự sống mới này với tất cả sự nhiệt thành và không bao giờ trở về sự sống cũ, mà bây giờ đã kết thúc. Như lời Kinh Thánh nói: Chúng ta đã chết đối với tội lỗi – rồi làm sao chúng ta có thể tiếp tục sống trong nó nữa?9

THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN: LÃNH NHẬN LỜI THIÊN CHÚA
 

Thánh lễ là lời cầu nguyện tuyệt vời nhất của chúng ta, nguồn cội và là chóp đỉnh của cuộc sống người Kitô hữu. Ở đây có một sự phong phú vô tận; chúng ta có thể “ngụp lặn” trong chiêm niệm tại vô số khoảnh khắc trong Thánh Lễ. Điều này cho thấy mầu nhiệm và bản chất vô hạn của Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta gặp gỡ trong phụng vụ. Tới đây, tôi muốn dừng lại và suy gẫm một vài điểm.

Trong Hiến chế Phụng vụ Thánh, các nghị phụ Công đồng Vaticano II đã phát biểu hùng hồn về sự hiện diện của Chúa Kitô trong Phụng vụ. Chúa Kitô hiện diện trong bốn cách thế khi chúng ta quy tụ để cử hành Thánh Lễ. Ngài hiện diện trong cộng đoàn, vì “ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thày, thì có Thày ở giữa họ” (Mt 18:20). Ngài hiện diện trong vị linh mục, Ngài hành động trong chính con người linh mục khi linh mục cử hành Thánh Lễ. Ngài hiện diện trong Lời được công bố. Và trong cách thế đặc biệt nhất, Ngài hiện diện trong Thánh Thể, bí tích Mình và Máu Thánh Ngài. Thực vậy, khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, chúng ta có thể cầu nguyện với lời kinh quen thuộc như kinh xin ơn gìn giữ của thánh Patrick, “Chúa Kitô ở với tôi, phía trước tôi, phía sau tôi và Ngài ở trong tôi.” Giáo hội chưa bao giờ cử hành Thánh Thể mà không có lời Thánh Kinh mở đầu, vén mở Lời của Thiên Chúa. Hầu hết các ngày Chúa nhật, các bài đọc đưa ta đến việc mở ra kế hoạch của Thiên Chúa, từ lời hứa trong Cựu Ước, xuyên qua việc thực hiện lời hứa ấy trong Tân Ước. Qua các bản văn tường thuật trong Cựu Ước và các tác phẩm các ngôn sứ, chúng ta nhận thấy tình yêu thương và sự chăm sóc của Thiên Chúa đối với loài người khi Thiên Chúa chuẩn bị con đường cho sự xuất hiện của Đức Kitô. Sách Thánh Vịnh là sách cầu nguyện của Dân Do Thái, và đó cũng là cuốn sách cầu nguyện cho chúng ta nữa. Bài đọc hai trong Tân Ước, kể cho chúng ta về sự đấu tranh của Giáo hội thời sơ khai để công bố công cuộc cứu thế của Chúa Giêsu. Và bài đọc Tin Mừng là “đỉnh cao của Phụng vụ Lời Chúa,”10 vì trong bài Tin Mừng chính Chúa Kitô nói, và Giáo hội nghe bài Tin Mừng như “chính tiếng nói của Chàng Rể.”11
 
Tuy nhiên Phụng vụ Lời Chúa không phải nói về quá khứ, nhưng nói về hiện tại. Khi lời Thánh Kinh được công bố trong Nhà Thờ, “Thiên Chúa nói với Dân của Người, mở ra cho họ mầu nhiệm cứu chuộc và ơn cứu độ, và trao ban của ăn nuôi dưỡng tinh thần; chính Chúa Kitô hiện diện trong Lời của Người ngay giữa các tín hữu.”12 Khi chúng ta để cho chính mình lắng nghe, thực sự lắng nghe những gì Thánh Kinh đang nói với chúng ta trong cuộc sống và với thực tế chúng ta đang sống, thì những điều phi thường có thể xảy ra. Khi ta thực tâm suy gẫm về cuộc sống của mình và những thách đố chúng ta đang phải đối diện trong xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng, là chúng ta đang mở lòng đón nhận quyền năng biến đổi của Thiên Chúa.
 

THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN: SỰ HIỆN DIỆN ĐÍCH THỰC
 

Phần Phụng vụ Thánh Thể, chúng ta tiếp tục cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Kinh nguyện Thánh Thể được linh mục đọc thay mặt toàn thể cộng đoàn. Tất cả chúng ta, với tư cách thành viên dân tư tế của Thiên Chúa, cùng nhau dâng kinh nguyện này lên Chúa Cha. Chúng ta đem đến trước nhan Chúa thế giới và mọi hoạt động của nó, bằng cách đem cuộc sống của chính chúng ta dâng lên cùng với bánh và rượu để được biến đổi. Trong lời nguyện chuẩn bị bánh và rượu, linh mục cầu xin Thiên Chúa đón nhận “hoa màu ruộng đất và công lao của con người.” Khi chúng ta dâng công việc do bàn tay chúng ta làm ra – tình yêu và sức lao động hàng ngày của mình, niềm vui và nỗi buồn của gia đình, những nhu cầu của chính mình cũng như của cộng đoàn và quốc gia – Thiên Chúa nhận lấy tất cả của lễ này và biến đổi chúng.

Bánh và rượu chúng ta dâng lên Chúa được ban lại cho ta, để trở nên của ăn thiên đàng cho chúng ta, trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Lễ vật hiến tế của Chúa Kitô, được dâng lên một lần thay cho tất cả trên thập giá, được làm mới lại trong mầu nhiệm này, và qua việc chia sẻ Thánh Thể, chúng ta tham dự vào cùng một hy lễ đó. Sự hiện diện của Chúa Kitô trong bí tích này không chỉ đơn thuần là một sự diễn tả mang tính biểu tượng sự hiệp nhất của chúng ta như một cộng đoàn, hay như một lời nhắc nhở về tình yêu của Ngài. Trong Thánh Thể, sự chết và sống lại của Chúa Kitô trở nên hữu hình, và Chúa Kitô thực sự hiện diện ở giữa chúng ta: mình, máu, linh hồn và thiên tính. Chúng ta gọi sự hiện diện này là “Hiện Diện Đích Thực.” Khi chúng ta Rước Lễ, chúng ta thực sự thông phần vào Mình và Máu Chúa, được ban ơn cứu độ. Chúng ta hiệp nhất với Chúa Kitô, và qua sự chia sẻ của chúng ta trong mầu nhiệm này, chúng ta hiệp nhất với nhau.
 
Sống đời sống Thánh Thể không hề là điều dễ dàng. Lần đầu tiên Chúa Giêsu công bố mầu nhiệm này với các môn đệ, một vài người kinh hoàng: “Vì điều này, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Gioan 6:66). Thời đại chúng ta đang sống đặt ra những thách đố đặc biệt của đức tin. Chúng ta sống trong nền văn hoá mà hầu như bỏ quên Thiên Chúa. Đức tin thường được diễn tả như một di tích bụi bặm của một thời đã qua, và Giáo hội chỉ là một tổ chức gồm con người thiếu sót. Những thái độ này thấm nhập vào văn hoá chúng ta và có thể có tác động trên đời sống đức tin của chúng ta, làm xói mòn trí tưởng tượng huyền nhiệm và làm chúng ta khó nhận ra Sự Hiện Diện Đích Thực của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể và trong thế giới xung quanh chúng ta.
 
Nhưng chúng ta biết Thánh Thể là sự Hiện Diện Đích Thực của Chúa Kitô trong các nhà thờ và cuộc sống chúng ta, và mầu nhiệm này là trục của lịch sử. Chúng ta cần nuôi dưỡng – hay tái khám phá – “sự kinh ngạc Thánh Thể” của mình, để sử dụng cụm từ này của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II.13 Thánh Thể là đá góc tường của tất cả những gì chúng ta làm: là nguồn gốc từ đó chúng ta rút ra bản sắc của mình với tư cách cộng đồng những kẻ tin, là chóp đỉnh mọi việc làm và sự phục vụ của chúng ta đều hướng tới.
 
Việc Chầu Thánh Thể phát sinh cách tự nhiên từ cảm nghiệm của chúng ta về Thánh Thể trong Thánh Lễ. Như Đức Viện phụ Jeremy Driscoll, OSB (Dòng Biển Đức) đã nói, việc Đặt Mình Thánh để Chầu Thánh Thể giống như “hình ảnh tái hiện” cử chỉ nâng Mình Thánh, Máu Thánh Chúa Kitô lúc Truyền phép trong Thánh lễ. Phụng vụ chuyển biến rất nhanh. Thời gian sự hiện diện của Bí tích Thánh Thể ngoài Thánh Lễ, cho dù trong nhà tạm hay nơi Mặt Nhật đều cho phép chúng ta hấp thụ và tiếp nhận tất cả mầu nhiệm này. Thánh Lễ là hành động của Thiên Chúa trong tạo dựng, hình thành và cứu dân Người. Chầu Thánh Thể đặt chúng ta trước thực tại của công trình cứu chuộc chúng ta đã được Chúa Kitô hoàn tất. Giáo hội nhắm mục đích cho việc Chầu Thánh Thể là phải luôn luôn đặt trong mối tương quan với cử hành bí tích Thánh Thể trong Thánh lễ.
 

Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh tầm quan trọng của thời gian dành cho việc Chầu Thánh Thể đối với sứ mạng của Hội Thánh: “Nếu không có những thời khắc lâu để thờ phượng, gặp gỡ Lời Chúa trong kinh nguyện, hay đối thoại chân thành với Chúa, công việc của chúng ta dễ dàng trở thành vô nghĩa; chúng ta mất năng lượng do sự chán ngán và những khó khăn, và nhiệt huyết của chúng ta tắt dần. Hội Thánh cấp thiết cần hơi thở sâu của kinh nguyện.”14 Những khoảnh khắc này khi ta quỳ gối trước Thánh Thể, chỉ ta với Chúa, là quý giá và quan trọng. Nhưng, Đức Giáo hoàng tiếp, “Luôn luôn có nguy cơ là một số thời khắc cầu nguyện có thể trở thành cái cớ để từ chối hiến thân truyền giáo; một lối sống tư riêng có thể khiến người Kitô hữu tìm trú ẩn nơi một số hình thức linh đạo sai lạc.”15

Thời gian chúng ta dành trong thờ phượng luôn đầy tràn trong cuộc sống và hành động chúng ta, kéo chúng ta vào sâu hơn sự kết hiệp với Chúa Kitô và người khác. “Các vị thánh - chúng ta nhớ đến mẫu gương của chân phước Têrêsa thành Calcutta – không ngừng canh tân khả năng yêu thương của các ngài đối với tha nhân từ việc gặp gỡ Chúa trong Bí tích Thánh Thể và ngược lại sự gặp gỡ này giúp các ngài gặt hái được những thành quả và chiều sâu trong việc phục vụ tha nhân”16
 
Tôi rất ấn tượng về một trang nhật ký của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức cha A.M.A. Blanchet, vị giám mục đầu tiên của giáo phận này. Giáo phận được thiết lập ngày 31 tháng 5, 1850, nhưng Blanchet lại chú ý nhiều hơn đến một ngày khác trong nhật ký của mình – ngày 23 tháng 1, 1851. Đó là lần đầu tiên Mình Thánh Chúa được cất giữ trong nhà tạm của Nhà thờ Chính tòa thánh Giacôbê (St. James), đó là một nhà thờ khung gỗ đơn giản gần Fort Vancouver. Giám mục Blanchet viết, “Mình Thánh Chúa được đặt trong nhà tạm. Nhà thờ, sau này được cung hiến dâng kính thánh Giacôbê (St. James), tại thời điểm này, thực sự là Nhà của Thiên Chúa và là Cửa Thiên Đàng. Bây giờ chúng ta có thể nói, Thiên Chúa thánh hoá ngôi nhà này được xây dựng để thiết lập Danh Ngài ở đây, và con mắt, trái tim của Chúa sẽ luôn ở nơi đây.” Giám mục Blanchet biết rằng Thánh Thể là sự hiện diện của Chúa Kitô ở giữa chúng ta. Chúa Kitô vẫn hiện diện giữa chúng ta trong bí tích Thánh Thể hôm nay, và sự hiện diện này tiếp tục làm cho tất cả những gì chúng ta có và mọi việc chúng ta làm đều có thể trở thành hiện thực tại Tổng giáo phận chúng ta.

 

MỘT MẦU NHIỆM MANG TÍNH HOÀN VŨ
 

Nói về bí tích Thánh Thể là nói đến tính hoàn vũ. “Ngay cả khi được cử hành trên bàn thờ nhỏ bé bình thường của một nhà thờ miền quê, Thánh Thể, một cách nào đó, luôn được cử hành trên bàn thờ của thế giới. Thánh Thể nối kết trời và đất. Thánh Thể ôm lấy và thấm nhập vào toàn thể thọ tạo.”17 Thánh Thể bao gồm cả nhân tính và thiên tính, trần thế và thiên quốc. Trong bí tích Thánh Thể, như trong mầu nhiệm Nhập Thể, trời và đất gặp gỡ nhau: “Trong đỉnh cao của mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa chạm đến chiều sâu tận cùng của chúng ta qua xác thể. Người không đến từ bên trên, nhưng từ bên trong bước ra, để chúng ta có thể gặp gỡ Người trong thế giới của chúng ta. Trong bí tích Thánh Thể, sự viên mãn đã được hoàn tất; đó là trung tâm sống động của vũ trụ, tràn đầy tình yêu và sự sống bất diệt. Kết hợp với Ngôi Con Nhập Thể đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể, toàn thể vũ trụ tạ ơn Thiên Chúa. Thật vậy, bản thân bí tích Thánh Thể là một hành động tình yêu mang tính vũ trụ.”18

Thánh Thể củng cố đời sống nội tâm của chúng ta, đồng thời đưa chúng ta vượt xa hơn để đi vào mối tương quan sâu sắc với Thiên Chúa. Của ăn thiên đàng này gia tăng sức mạnh cho chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế cho đến khi chúng ta tìm thấy ngôi nhà đích thực của mình trên thiên quốc. Gần đây tôi có nhận được một ghi chú đáng yêu từ một trong các nữ tu của chúng ta, người đã đưa ra lời nhận xét ngắn gọn này: “Nhà chúng ta không ở đây. Nhà chúng ta ở trên thiên đàng, và thiên đàng thì tìm thấy trong bí tích Thánh Thể.”
 

Trên mặt đất không còn gì khác hơn ngoài Thánh Thể: Không thể có sự so sánh cân đối nào! Đây là của ăn, của uống, nhưng khác hẳn với của ăn và của uống khác. Đây là bữa ăn được chia sẻ, khác với mọi bữa ăn khác. Trong bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa nhận lấy sự khiêm tốn nhất của lễ vật trần thế chúng ta – bánh và rượu – và biến đổi chúng thành điều phi thường, là chính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Trong sự hiện diện của mầu nhiệm tuyệt vời này, tất cả những gì chúng ta có thể làm là khiêm tốn đến gần Thiên Chúa để lãnh nhận điều Ngài muốn ban cho chúng ta.

Chúng ta mong đợi điều gì khi chúng ta đến với Thánh lễ ngày Chúa nhật? Chúng ta mong được sự tiếp đón nồng ấm, âm nhạc hay, bài giảng xuất sắc (không quá dài), và phụng vụ được cử hành trang nghiêm và cung kính, hợp thời và uyển chuyển. Và đúng vậy, tất cả điều này đều quan trọng. Tuy nhiên, không gì quan trọng bằng cuộc gặp gỡ Thánh Thể của chúng ta với Chúa Kitô, điều này phải là trọng tâm của công việc mục vụ, của đời sống giáo xứ và đời sống đức tin hàng ngày của chúng ta. Theo cách nói này, phụng vụ thực sự ở trong các cộng đồng chúng ta “ là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Giáo hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo hội.”19 Thánh Thể làm chúng ta mạnh sức và “lôi kéo người tín hữu vào trong tình yêu đầy sức thu hút của Chúa Kitô và làm cho họ bừng cháy,” làm gia tăng động lực cho mọi hoạt động của giáo xứ, điều này lại hướng chúng ta trở lại Thánh Thể trong lời chúc tụng và tạ ơn.
 

THÁCH ĐỐ CỦA VIỆC HIỆP NHẤT
 

Thánh Phaolô có những lời khiển trách mạnh mẽ trong thư gửi các tín hữu thành Cô-rin-tô vốn cộng đoàn của họ đang bị óc bè phái gây chia rẽ. Thánh nhân rất đau đớn trước tình trạng họ bị chia rẽ rõ ràng khi cử hành Thánh Thể: “Tôi nghe nói rằng khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau… Tôi phải nói gì với anh em? Chẳng lẽ tôi khen anh em sao? (1 Cr 11:18, 22). Chúng ta biết vẫn có sự chia rẽ trong Hội Thánh hôm nay. Thay vì nhận ra sự hiệp nhất đặt nền tảng nơi Thân Mình Chúa Kitô, thì một vài người Công giáo làm tăng thêm sự chia rẽ này bằng cách loại trừ hay thậm chí phỉ báng người khác. Phụng vụ cũng có thể dễ dàng trở thành một bãi chiến trường về tư tưởng, khi người ta cố ép cho rằng cách làm của riêng họ tốt hơn hay thậm chí duy nhất. Nhưng điều đó cho thấy Giáo hội giống như một thể chế con người mà chúng ta có thể định hình theo lối suy nghĩ riêng mình. Giáo hội là một mầu nhiệm, qua đó Thiên Chúa gọt giũa chúng ta, huấn luyện chúng ta vào trong dân thánh của Người. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đề cập điều này: “Chúng ta không ngừng bị cám dỗ giảm nhẹ Thánh Thể vào trong chiều kích tư riêng của chúng ta, đang khi thực tế chúng ta phải mở lòng ra cho những chiều kích của Mầu Nhiệm này”20. Khi chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa làm cho chúng ta trở thành gia đình của Thiên Chúa, nhờ Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu. Điều này chúng ta không làm được mà do Thiên Chúa thực hiện: “Xin Chúa thương nhận lời cầu của gia đình mà Chúa đã muốn tụ họp trước Tôn Nhan Chúa đây.”21
 
Là một Giáo hội địa phương, hiệp nhất là mục tiêu trổi vượt hơn giữa nhiều mục tiêu khác. Hiệp nhất là điều thiết yếu cho công cuộc truyền giáo. Vào đêm trước khi Chúa Giêsu chịu chết, lời cầu nguyện của Người cho các môn đệ là xin cho chúng ta được nên một: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.”(Gioan 17:20-21) Hiệu quả chứng từ của chúng ta tuỳ thuộc vào sự hiệp nhất của chúng ta. Không có ở đâu quan trọng cho bằng sự hiệp nhất trong buổi cử hành Thánh Thể của chúng ta. Khi cùng nhau kết đoàn làm nên một thân thể . Lo sao đừng chia rẽ, sống hòa thuận bình an.
 
Đừng tranh chấp kêu ca, chớ nặng lời cãi cọ. Nguyện Kitô Đức Chúa hằng ngự giữa chúng ta.22
 

Hiệp nhất không dễ dàng. Hiệp nhất đòi hỏi cho và nhận. Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI viết, “Hiệp nhất với Chúa Kitô cũng là hiệp nhất với những người mà Chúa đã hiến mình cho họ. Tôi không thể sở hữu Đức Kitô chỉ cho bản thân mình; Tôi chỉ có thể thuộc về Ngài chỉ khi kết hợp với tất cả những ai đã trở thành hoặc sẽ trở thành của chính Ngài. Sự kết hiệp kéo tôi ra khỏi chính mình về với Chúa, và như thế cũng hướng về sự hiệp nhất với tất cả các Kitô hữu khác.”23 Sự kết hiệp với Đức Kitô mà chúng ta cảm nghiệm khi tham dự Thánh lễ và Rước lễ hoàn toàn không chỉ là kết hiệp giữa Chúa và bản thân mình, vì Thánh Lễ không phải là sự sùng mộ mang tính chất cá nhân nhưng là một lời cầu nguyện chung. Vì lý do đó, các cuộc cử hành Thánh Thể của chúng ta không nên mang dấu ấn những biểu lộ của lòng sùng mộ mang tính chất riêng tư, mà bằng sự hiệp nhất.

Tiếng hát, lời đáp, các tư thế chúng ta làm trong Thánh Lễ - đứng, cúi đầu, quỳ gối – là những dấu chỉ rất quan trọng của sự hiệp nhất đó, và hơn nữa: Chúng thực sự có thể giúp xây dựng sự hiệp nhất mà chúng ta tìm kiếm. Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma nói với chúng ta rằng ca nhập lễ không chỉ là giới thiệu một cử hành, nhưng “là giúp cho các tín hữu đang tụ họp được hiệp thông với nhau.”24 Tương tự, “Ðiệu bộ chung mà mọi người tham dự phải giữ là dấu chỉ của sự hợp nhất giữa các thành phần của cộng đoàn Kitô hữu đang quy tụ để cử hành Phụng Vụ Thánh: nó biểu lộ và khích lệ tâm hồn cũng như tình cảm của các người tham dự.”25
 
Khi chúng ta tụ họp để cử hành Thánh Lễ, những gì chúng ta làm với tư cách cộng đoàn thực sự quan trọng. Các nghi thức trong Thánh Lễ, như khi linh mục bẻ bánh, nhắc chúng ta nhớ điều này. Một tấm bánh được bẻ ra thành nhiều phần nhỏ, để nhiều người có thể trở nên một thân thể Chúa Kitô. Thánh Phaolô viết, “Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10:17).
 
Sự hiệp nhất của chúng ta phải đi xa hơn ngoài cộng đồng giáo xứ chúng ta. Khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, chúng ta là một phần của Giáo hội rộng lớn hơn – Giáo hội địa phương này, Tổng Giáo phận Seattle, và Giáo hội trên toàn thế giới. Vào thời Giáo Hội sơ khai tại Rôma, sự hiệp nhất này được diễn tả trong một nghi thức độc đáo, ở ngoài Thánh Lễ, gọi là fragmentum - chia phần tấm bánh. Mỗi Chúa nhật, vị giám mục Rôma gửi cho mỗi giáo xứ một mảnh bánh đã truyền phép trong thánh lễ ngài cử hành. Sau đó miếng bánh này được bỏ vào hòa trong chén thánh tại mỗi cử hành nghi thức Thánh Thể. Nó tượng trưng cho sự hợp nhất của các giáo xứ với Thánh Lễ được vị giám mục Rôma cử hành.
 
Nhận biết về tổng giáo phận này trong năm qua, tôi đã thấy một loạt các thực hành phụng vụ. Để diễn tả và củng cố sự hiệp nhất của chúng ta như một giáo hội địa phương, tôi muốn làm rõ vài khía cạnh trong Thánh Lễ, và để đưa chúng ta đi vào sự đồng nhất về tư thế và thực hành. Tôi nhận thấy nó sẽ đòi hỏi vài sự thay đổi cho hầu hết các cộng đồng giáo xứ chúng ta, cho đa số, nhưng sự hiệp nhất với tư cách Giáo hội địa phương trong cử hành phụng vụ chắc chắn bảo đảm cho nỗ lực từ phía chúng tôi. Về vấn đề này, chúng ta phải chú ý việc thực hành của Giáo hội Hoàn vũ, đặc biệt “những gì đem lại lợi ích thiêng liêng chung cho dân Chúa hơn là theo sở thích hay phán đoán của riêng mình.”26
 

TƯ THẾ CẦU NGUYỆN
 

Trong Thánh Lễ, chúng ta cầu nguyện không chỉ với tâm trí, trái tim và giọng nói, nhưng còn với toàn bộ cơ thể con người chúng ta nữa. Chúng ta đứng – tư thế cổ xưa của cầu nguyện và tôn kính. Chúng ta ngồi – tư thế lắng nghe và chú ý. Và chúng ta quỳ - tư thế của khiêm tốn và thờ lạy. Tất cả các tư thế này được đặt vào chỗ thích hợp trong cử hành phụng vụ của chúng ta: đứng trong nghi thức đầu lễ, công bố Tin Mừng, tuyên xưng Đức Tin và lời nguyện chung; ngồi trong phần Phụng vụ Lời Chúa và bài giảng lễ.

Liên quan đến Kinh Nguyện Thánh Thể, tôi muốn chúng ta dùng tư thế chung cho toàn tổng giáo phận suốt phần Phụng vụ Thánh Thể và nghi thức Hiệp lễ, quỳ gối như Quy chế Sách lễ Rôma và thực hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ. Vì vậy, chúng ta “sẽ quỳ gối bắt đầu từ sau lời tung hô Thánh! Thánh! Thánh! cho đến hết Kinh Nguyện Thánh Thể.”27
 
Theo sau kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta đứng để cùng nhau đọc Kinh Lạy Cha và chào chúc bình an. Chào chúc bình ban không chỉ đơn thuần là một cử chỉ của thiện chí. Nó là bình an của Chúa Kitô mà chúng ta lãnh nhận và chia sẻ trong khoảnh khắc này. Bình an của Chúa kéo chúng ta lại hiệp thông với Thiên Chúa và với người khác.
 
Hơn nữa, chúng ta nên “quỳ gối sau kinh Lạy Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei)”28 cho tới khi lên Rước lễ. Quỳ gối là tư thế của thờ lạy. Khi quỳ gối, chúng ta không thể “làm” điều gì khác! Trong giây phút này, chúng ta chuẩn bị để Rước lễ bằng việc quỳ gối trước sự hiện diện của Chúa Kitô, đã ở giữa chúng ta trong bí tích Mình và Máu Thánh Chúa, cho tới khi đứng dậy để đi theo đoàn người lên Rước lễ.
 
Hiệp lễ là giây phút linh thiêng gặp gỡ Chúa phục sinh trong bí tích Mình và Máu Thánh Người. Đó là sự kết hiệp, hoàn toàn không mang tính chất cá nhân: Đây là hành vi mang tính cộng đoàn. Khi chúng ta tiến lên Rước lễ, chúng ta trở nên một phần của đoàn rước với toàn thể cộng đoàn được quy tụ. Chúng ta trở nên điều chúng ta lãnh nhận: Thân Thể của Chúa Kitô. Do đó, sự hợp nhất của tư thế cũng quan trọng trong đoàn người lên Rước Lễ nữa. Trong Tổng Giáo phận Seattle, chúng ta sẽ tuân theo các quy tắc đối với Hoa Kỳ nhằm áp dụng những điều được nói đến trong Quy chế Sách lễ Rôma. Khi chúng ta di chuyển theo đoàn rước về phía bàn thờ, chúng ta cúi đầu trước khi đón nhận Mình hay Máu Thánh Chúa Kitô, và giữ yên tư thế đứng để Rước Lễ, bất kể bánh thánh hay chén thánh. Để quỳ gối lúc này, hay thêm các cử chỉ khác, chỉ là cá nhân hoá việc Rước Lễ. Tuy nhiên, đây không phải là lúc để cá nhân bày tỏ lòng thành kính, nó làm người khác chia trí và kéo sự chú ý về mình. Tốt hơn, sự sùng kính trong niềm tin chúng ta về sự hiện diện thật của Chúa trong bí tích Thánh Thể, đây là lúc chúng ta nên hợp nhất như một cộng đoàn. Việc đón nhận Mình Thánh Chúa Kitô, chúng ta trở nên một với Chúa Kitô, và qua Chúa Kitô, nên một với anh chị em mình khi đón nhận cùng một Chúa Thánh Thể.
 
Tham gia vào bài ca Hiệp Lễ đang khi cộng đoàn tiếp tục lên Rước Lễ là một cách thức thờ phượng quan trọng khác và là nguồn hiệp nhất. Trở về chỗ sau khi Rước Lễ, thật thích hợp để “ngồi hoặc quỳ trong suốt thời gian thinh lặng thánh sau Rước Lễ.”29
 
Đây là lúc suy gẫm mầu nhiệm chúng ta đón nhận và dâng lời tạ ơn về món quà quý giá này. Việc tráng chén sau khi Rước Lễ do linh mục hay phó tế thực hiện. Phải giữ tôn kính của chúng ta đối với Chúa đang ngự Thánh Thể, nên nghi thức này đòi hỏi phải được thi hành cách cẩn thận, nhưng không nên kéo dài quá mức. Chú thích trong Quy chế Sách Lễ Rôma (GIRM) cho phép các chén thánh được đặt bên cạnh bàn thờ và phủ khăn, để được lau sạch sau Thánh Lễ, có thể chọn cách khác nếu việc tráng chén chiếm một khoảng thời gian đáng kể.
 
Tôi xin các anh em linh mục dành thời giờ đọc kỹ các tài liệu và các bản văn về phụng vụ, để chúng ta có thể khiêm tốn xét mình về việc thực thi tư cách chủ tế và trung thành với việc cử hành bí tích Thánh Thể. Vì nhiều lý do khác nhau, theo thời gian, khi cử hành phụng vụ, chúng ta thực sự có thêm thắt chút ít, đưa thêm vào dù là lời kinh hay các cử chỉ và thực hành. Chúng ta hãy cam kết với chính mình sẽ trung thành hơn với các lời kinh và quy định chữ đỏ trong sách lễ Rôma, hãy nhớ rằng không có ai “dầu là linh mục, được lấy quyền riêng tư thêm bớt hay thay đổi một điều gì trong Phụng Vụ.”30

Cùng với lá thư mục vụ này, tôi sẽ ban hành hướng dẫn sửa đổi cho việc cử hành bí tích Thánh Thể trên toàn Tổng Giáo phận Seattle. Tôi xin tất cả các linh mục chánh xứ xem lại bản hướng dẫn này cách cẩn thận và để thực hiện những thay đổi cần thiết trong thời gian bắt đầu Năm Phụng vụ mới, mùa Vọng 2020.


THÁNH THỂ VÀ ĐỨC ÁI


Khi Giáo hội cử hành bí tích Thánh Thể, không chỉ bánh và rượu được biến đổi nên Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, mà chính chúng ta cũng phải được biến đổi nữa. Khi chúng ta dâng của lễ bánh và rượu, cùng với bất cứ của lễ quyên góp nào, đều tượng trưng cho việc chúng ta đặt chính mình trên bàn thờ, chúng ta (cùng với bánh và rượu) có thể trở thành Thân Thể Chúa Kitô. Khi đón nhận Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta trở nên điều chúng ta đón nhận – chúng ta được hiệp làm một với Thân Thể Chúa Kitô. Thánh Augustino nói với giáo đoàn của ngài rằng, “Vậy, nếu anh em muốn hiểu thân thể Chúa Kitô, hãy lắng nghe vị tông đồ nói với các tín hữu, anh em là thân thể Đức Kitô và là các chi thể của Người (1Cr 12:27). Nếu thực anh em là thân thể Chúa Kitô và là chi thể của Người, thì chính mầu nhiệm của anh em đang được đặt trên bàn tiệc của Chúa; Anh em hãy lãnh nhận mầu nhiệm của mình.”31 Trở nên Thân Thể Chúa Kitô là mang lấy sứ mạng của Chúa Kitô trên trần thế. Điểm cốt yếu của sứ mạng này là loan báo Lời của Chúa Kitô, cử hành các bí tích của Người, và mở rộng tình yêu của Người qua cuộc sống bác ái.

Bí tích Thánh Thể gắn kết chúng ta với người nghèo32. Các vị giáo hoàng gần đây đã nối kết giữa Thánh Thể với công việc từ thiện rất rõ ràng. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc chúng ta luôn giữ tinh thần chúng ta được bám chắc, để “loại trừ cơn cám dỗ nêu lên một linh đạo tư nhân và cá nhân, không đúng với những đòi hỏi của đức ái”33. Trong tông thư về Năm Thánh Thể, ngài viết: “Chúng ta không thể dối lòng được đâu: nhờ biết yêu thương nhau, cụ thể là, biết quan tâm đến những người túng thiếu, chúng ta mới được nhìn nhận là môn đệ của Đức Kitô… Đó cũng là tiêu chí xem xét chúng ta có cử hành Thánh Thể một cách đích thực hay không.”34

Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI nhắc lại sự liên kết thiết yếu giữa thờ phượng và phục vụ, giữa Thánh Thể và bác ái: "Sự thờ phượng", sự hiệp thông trong bí tích Thánh Thể, tự nó bao gồm thực tại của cả tình trạng được yêu và yêu thương ngược lại. Sự Hiệp thông Thánh Thể nếu không được nối tiếp bằng sự thực hành yêu thương cụ thể thì tự bên trong đã là chắp vá”35. Khi chúng ta làm việc để củng cố các buổi cử hành Thánh Thể của chúng ta và để đào sâu linh đạo Thánh Thể của mình trong những ngày tháng sắp tới, chúng ta hãy dốc lòng sẽ cử hành bí tích Thánh Thể cách thực sự xứng hợp, để bí tích này tràn thấm trong những hoạt động bác ái qua việc phục vụ người nghèo nhất và người dễ bị tổn thương nhất. 
 

NĂM THÁNH THỂ


Với lá thư mục vụ này, tôi công bố Năm Thánh Thể, bắt đầu từ lễ mừng Kính Trọng Thể Mình và Máu Thánh Chúa Kitô ngày 14 tháng 6, và kết thúc cùng ngày lễ trọng này vào thứ Bảy, mùng 6 tháng 6, 2021. Đây là thời gian cho mọi người dựa trên chủ đề Thánh Thể cho chương trình giáo lý và giảng dạy. “Những mục tử chăn dắt các linh hồn phải chú trọng và kiên tâm theo đuổi việc huấn luyện phụng vụ cho các tín hữu và cho họ tích cực tham dự bên trong lẫn bên ngoài.”36

Các linh mục và phó tế nên tận dụng mọi cơ hội dùng sách Bài Đọc trong năm này mà giảng dạy về Thánh Thể. Đây là thời gian thích hợp cho các giáo xứ cung cấp các buổi huấn luyện bổ túc cho các thừa tác viên phụng vụ, cũng như bổ túc các buổi học giáo lý cho tất cả anh chị em giáo dân. Mục tiêu của chúng ta là cho tất cả các tín hữu Công giáo tham gia vào mầu nhiệm chúng ta cử hành, và để trân trọng các cử hành này cách đầy đủ hơn, và chúng ta hy vọng rằng anh chị em giáo dân cũng có thể nhận ra ngụ ý của nghi thức sai đi cuối lễ như một sự uỷ thác sống cuộc đời Thánh Thể trong thế giới, thực hiện sứ mạng của Chúa Giêsu trong đời sống mỗi ngày của chúng ta.

Tổng giáo phận sẽ hỗ trợ các vị lãnh đạo trong giáo xứ tìm ra các tài liệu tốt và các diễn giả cho các nhóm trong giáo xứ và học hỏi tại nhà. Các giáo xứ được khuyến khích mở các buổi tĩnh tâm và hội thảo để cung cấp không chỉ là cơ hội cầu nguyện, mà còn dạy giáo lý về bí tích Thánh Thể và nguồn ân sủng sâu sắc cung cấp cho sự hoán cải và thánh thiện trong cuộc sống.

Trên tất cả mọi sự, niềm hy vọng của tôi là thời gian tăng cường cầu nguyện và học hỏi này sẽ nuôi dưỡng và củng cố các buổi tụ họp ngày Chúa nhật để cử hành món quà phi thường này, công cuộc cứu chuộc này chính là Thánh Thể. Trong khi điểm tập trung chính yếu của Năm Thánh Thể này là gia tăng sự hiểu biết của chúng ta và nâng cao chất lượng cách cử hành bí tích Thánh Thể trong Thánh Lễ, niềm tin Chúa Kitô đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể của Chúa Kitô, dẫn dắt chúng ta một cách tự nhiên đến những giây phút cầu nguyện trước Bí tích Thánh Thể. Tôi khuyến khích anh chị em giáo dân hãy tận dụng các cơ hội này. Trong lúc anh chị em lo toan các công việc hay lúc chờ đợi đón con sau giờ học, anh chị em có thể tập thói quen tốt lành dừng lại vài phút ở một nhà thờ nào đó để cầu nguyện trước Thánh Thể.

Thật tuyệt vời biết bao nếu, suốt năm tới, mỗi người chúng ta được thêm lòng ước muốn và ngày càng biết trò chuyện trong cầu nguyện với Chúa Kitô, Đấng hiện diện trong bí tích Thánh Thể! Thiên Chúa mong mỏi được nghe từ phía chúng ta, để biết, trong ngôn ngữ riêng mình, điều gì đang xảy ra trong cuộc đời chúng ta: niềm hy vọng, nỗi sợ hãi, niềm vui, mối bận tâm và những thắc mắc của chúng ta.
Như lời trích dẫn từ đầu lá thư này, Giáo hội sống nhờ Thánh Thể,37 và chúng ta cũng vậy vì chúng ta là chi thể của Thân Mình Chúa Kitô, là Giáo hội. Thật đẹp thay khi chúng ta học sống như Chúa Kitô, khi chúng ta cho phép Chúa Kitô sống trọn vẹn hơn trong và qua chúng ta. Đây là phần lớn của những gì mà toàn bộ cuộc sống Thánh Thể hướng về!

Tôi biết lúc này không phải là thời điểm tối ưu dành cho việc nâng cao đời sống phụng vụ của chúng ta, khi bệnh dịch vi-rút corona dường như vẫn tiếp tục làm gián đoạn khả năng quy tụ của chúng ta để cử hành bí tích Thánh Thể như thường lệ. Tuy nhiên, việc cử hành Năm Thánh Thể đã là mong muốn của tôi từ lâu rồi, vì vậy chúng ta tin tưởng vào sự Quan Phòng của Thiên Chúa và nhờ ân sủng của Người, chúng ta sẽ hưởng lợi ích từ việc canh tân lời cầu nguyện và sự học hỏi của chúng ta về bí tích Thánh Thể. 

 

ĐỨC MARIA, NGƯỜI MẸ THÁNH THỂ


Ngay từ giây phút đầu tiên của mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Mẹ đã chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa với một tình yêu và sự tùng phục thánh ý tuyệt vời. Sứ thần Ga-bri-en đã báo trước về Con Thiên Chúa, trẻ này sẽ được cưu mang bởi phép Chúa Thánh Thần, và nhận ngai vàng của một vương quốc không bao giờ chấm dứt (x. Lc 1:26-38). Cụ già Simeon cũng nói tiên tri rằng qua Chúa Giêsu, tâm tư nhiều người sẽ được tỏ lộ, và một lưỡi gươm sẽ đâm thấu trái tim Mẹ Maria (x. Lc 2: 33-35). Từ giây phút sinh con, trong yêu thương và vâng phục, Mẹ Maria đã dâng lại người con của Mẹ, Chúa Giêsu, lên Chúa Cha, đến giây phút đứng dưới chân thập giá, trái tim Mẹ tan nát cùng với con của Mẹ, vì thế “hiệp nhất chính mình … dự phần với hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra.”38

Maria là Mẹ của ân sủng, vì Mẹ là nữ tỳ của Chúa Kitô trong việc dành lại cho chúng ta hồng ân cao trọng nhất: chuộc tội và cứu độ, sự sống thần linh và vinh quang bất tận.39 Mẹ nhân lành của chúng ta đã liên kết chặt chẽ với Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô. Đứng dưới chân thập giá, Mẹ Maria chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu và nhận lấy thân thể đầy thương tích của Người trên đôi tay Mẹ. Mẹ Maria vui mừng đón lấy Chúa Kitô phục sinh. Mẹ hiện diện trong ngày Hiện Xuống. Cho đến hôm nay, Mẹ Maria vẫn hiện diện trong Thánh Thể, vẫn đang cầu nguyện cùng với và cho Giáo hội.

Mẹ Nhân Lành của chúng ta chỉ cho tất cả những kẻ tin biết sống làm người môn đệ Chúa Giêsu thế nào, làm cho cuộc đời chính chúng ta trở nên của lễ yêu dấu dâng lên Thiên Chúa. Rồi, đến với Mẹ Maria, chúng ta phó dâng chính mình và các buổi cử hành Thánh Thể trong suốt Năm Thánh Thể sắp tới. Nguyện xin Mẹ chuyển cầu cho chúng ta được biết sống trọn vẹn hơn cuộc sống của Đức Kitô, sự sống và tình yêu được thông ban cho chúng ta trong mỗi Thánh lễ. Xin Đức Mẹ chuyển cầu cho chúng ta được ơn cộng tác trọn vẹn hơn với con Mẹ, Đấng xuyên suốt công cuộc cứu chuộc hoàn thành trong mỗi Thánh Lễ, canh tân nơi cư ngụ của Người trong mỗi chúng ta.

Cho phép tôi kết thúc với những lời của thánh Catarina thành Siena về Thánh Thể nuôi dưỡng chúng ta thế nào, và của ăn này thêm sức cho chúng ta ra sao để biến cuộc sống chúng ta trở nên món quà yêu thương cho người khác:

Bí tích này không bị giảm đi vì bị phân chia, chẳng có gì hơn lửa để làm ví dụ. Nếu con có ngọn đèn cháy sáng, và mọi người muốn nhờ đó mà thắp đèn của họ, ánh sáng đèn của con không vì thế mà bị hao hụt, nhưng mỗi người đều được trọn vẹn ánh sáng. Thực vậy, đèn của mỗi người sáng nhiều hay ít là tuỳ ở chất liệu của đèn mang tới tốt hay xấu để châm lửa…

Những gì Cha đã ban cho con để con yêu mến, và qua bí tích Thánh tẩy con đã lãnh nhận nhờ Thần lực của Máu Ngôi Lời, con đã sẵn sàng chia sẻ ánh sáng này… Vì vậy, nếu muốn thắp sáng đèn này, con phải nhận tim đèn là đức tin. Và với ân sủng con nhận được trong bí tích Thánh tẩy, con phải gắn kết vào tình yêu của chính tâm hồn con. Vì Cha tạo ra linh hồn con với khả năng yêu thương – đến mức con không thể sống mà không có tình yêu. Thật thế, tình yêu là lương thực của con.40

 
+ Lễ thánh Catarina thành Siena, ngày 29 tháng 4, 2020
Kỷ niệm bổ nhiệm đầu tiên làm Giám mục Phó Tổng Giáo phận Seattle
Tổng Giám mục Paul D. Etienne, DD, STL Tổng Giáo phận Seattle

 
TRI ÂN
Lời tri ân đặc biệt gửi đến Đức Viện phụ Jeremy Driscoll, OSB, về những tư vấn sâu sắc, và Corinna Laughlin vì sự trợ giúp to lớn trong việc soạn thảo tài liệu này.
 
1 Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thể, 1.
2 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 2.
3 Cf. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 571.
4 Công bố Phục Sinh, “Exsultet,” Sách lễ Roma.
5 Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Niềm vui Tin Mừng, 120
6 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 2.
7 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 48.
8 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 11.
9 Trích bài giảng lễ Phục Sinh được coi là của Thánh Gioan Kim Khẩu, Bài đọc Kinh Sách, Thứ Hai, Tuần Thứ Hai Phục Sinh.
10 Dẫn vào Sách Bài Đọc, 13.
11 Dẫn vào Sách Các Bài Tin Mừng, 4.
12 Quy chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, 55.
13 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thể, 5.
14 Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, 262
15 Ibid.
16 Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Thộng điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, 18.
17 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thể, 8.
18 Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’, 236.
19 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 10.
20 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư Mane Nobiscum Domine, 14.
21 Kinh Nguyện Thánh Thể III, Sách Lễ Rôma.
22 Điệp ca “Ubi caritas,” Ca Tiến Lễ, Thứ Năm Tuần Thánh, Sách lễ Rôma.
23 Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, 14.
24 Quy chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma (GIRM), 46.
25 GIRM 42
26 GIRM, 42.
27 GIRM, 43.
28 Ibid
29 Ibid
30 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 22.
31 Thánh Augustinô, Bài Giảng 272.
32 Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1397.
33 Tông thư Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, 52.
34 Tông thư Mane Nobiscum Domine, 28.
35 Thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, 14
36 Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 19.
37 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thể, 1.
38 Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, 58.
39 Cf. Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, 61.
40 Thánh Catarina Siena, Đối Thoại, 110.
Bản dịch Việt ngữ: Maria Dinh
Hiệu đính: Khổng Thành Ngọc